Hình thức hợp đồng EPC

Bài 1:  Tổng quan về EPC

 

Gần đây, trên một số  diễn đàn có đăng tải nhiều bài báo về đấu thầu gói thầu EPC, trong đó có đề cập đến một số nội dung thuộc về quy trình lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu EPC. Bên cạnh ý kiến tâm huyết và hiểu biết sâu về đấu thầu của các chuyên gia thì vẫn còn một số cá nhân đưa ra các nhận định chưa thực sự đúng và trúng về quy trình lựa chọn nhà thầu.
Nhằm cung cấp cho đông đảo bạn đọc cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về đấu thầu gói thầu EPC, chúng  tôi trân trọng giới thiệu  đến các bạn đọc chùm bài viết về EPC của những người làm công tác quản lý đấu thầu trong chuyên mục góc nhìn EPC .

 

Trong chùm bài trao đổi  về EPC của những người làm công tác quản lý đấu thầu chúng tôi sẽ cung cấp tới bạn đọc những bài viết với các chủ đề: tổng quan về EPC, quy trình xét thầu gói thầu EPC, điều kiện trúng thầu gói thầu EPC, sử dụng lao động nước ngoài, quản lý hợp đồng của chủ đầu tư và một số vấn đề liên quan khác. Bài “Tổng quan về EPC” gồm 3 nội dung chính: khái niệm về EPC, bàn luận xung quanh vấn đề lợi thế và bất lợi của EPC và việc áp dụng EPC nhằm đưa ra cách hiểu chính xác về EPC trước khi đi vào những vấn đề cụ thể ở những bài viết sau:

 

Khái niệm EPC
EPC là một hình thức quản lý mới trong triển khai dự án đầu tư xây dựng công rình EPC là các chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Engineering -Procurement of Goods – Construction. Khái niệm này được hiểu là trong cùng một gói thầu, một hợp đồng, nhà thầu được giao thực hiện cả ba nội dung công việc: tư vấn (ví dụ: khảo sát, thiết kế, giám sát). mua sắm hàng hóa mà cụ thể là vật tư, thiết bị cho dự án và thi công xây lắp công trình EPC là một hình thức cụ thể của cách tiếp cận: giao cho cùng một nhà thầu vừa thiết kế vừa thi công xây lắp (Design Build – DB). khác với cách tiếp cận truyền thống thiết kế xong mới chọn nhà thầu thi công.
Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể EPC bao hàm các  phạm vi công việc khác nhau, có thể là việc thực hiện các dự án, cũng có thể là thực hiện một gói thầu / hạng mục công trình thuộc dự án. Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) soạn thảo Điều kiện Hợp đồng mẫu cho dự án EPC, như vậy là EPC áp dụng theo dự án. Tại Trung Quốc, công việc của nhà thầu EPC bắt đầu ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án và chỉ kết thúc ở giai đoạn sau xây dựng, đưa công trình vào vận hành.
Ở nước ta, EPC có thể triển khai ở phạm vi gói thầu thực hiện một công trình của dự án như tại Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 1 (Tổ máy số 1),  cũng có thể ở phạm vi cả dự  án như tại Nhà máy Thủy điện Na Hang, Tuyên Quang. Khi đưa EPC vào áp dụng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, các nhà quản lý lựa chọn cách sử dụng nguyên gốc tiếng Anh và chỉ giải thích bằng tiếng Việt. Điều này một phần nhằm đảm bảo tính hội nhập trong công tác quản lý kinh tế, tuy nhiên phần nào dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất.  Theo khoản 21 Điều 4 Luật Đấu thầu, gói thầu EPC là gói thầu bao  gồm toàn bộ các công việc thiết kế. cung cấp thiết bị. vật tư và xây lắp.
Nghị định 48/2010/NĐ -CP ngày 7/5/2010 về hợp đồng trong hoạt động xây dựng (điểm g khoản 1 Điều 31) quy định: Hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (Hợp đồng EPC) là hợp đồng để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình, hợp đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư. Nghị   định cũng phân biệt hợp đồng EPC với hợp đồng chìa khóa trao tay với khái niệm: Hợp đồng tổng  thầu chìa khóa trao tay là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các cộng việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình của một dự án đầu tư xây dựng công trình. Đối với gói thầu EPC, chỉ có một nhà thầu chịu trách nhiệm về các nội dung. tư vấn, mua sắm thiết bị, vật tư và xây lắp. Nhà thầu EPC kết thúc công việc khi đã đào tạo chuyển giao công nghệ. vận hành chạy thử và công trình được chủ đầu tư nghiệm thu. Đối với hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay, ngoài các công việc của nhà thầu EPC, tổng thầu chìa khóa trao tay còn phải thực hiện công tác lập dự  án đầu tư cùng chủ đầu tư tham gia bảo vệ dự án trước người quyết định đầu tư.

 

Như vậy, theo các quy định trên thì khái niệm EPC và chìa khóa trao tay ở ViệtNamkhông hoàn toàn trùng khớp như cách hiểu của một vài diễn giả từng tham gia tranh luận về vấn đề EPC. EPC có sự khác biệt cơ bản  so với cách triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình thông thường. Trong cách làm thông thường, chủ đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện hoặc lựa chọn nhiều nhà thầu khác nhau, với điều kiện có đủ năng lực hoạt động xây dựng, thực hiện các khâu khác nhau trong một dự án: ví dụ nhà thầu tư vấn A được lựa chọn thực hiện nhiệm vụ lập báo cáo nghiên cứu khả thi nhà thầu tư vấn B lập thiết kế kỹ thuật và dự toán, nhà thầu xây lắp C thực hiện gói thầu xây lắp chính của dự án và nhà thầu cung cấp D cung cấp toàn bộ thiết bị của dự án. Nói cách khác, các khâu theo từng chuyên môn được tách bạch rõ ràng: công việc tư vấn .do nhà thầu tư vấn đảm nhận. công việc xây lắp do nhà thầu thi công đảm nhận, hàng hóa và thiết bị của công trình do nhà thầu cung cấp đảm nhận. Điều này đồng nghĩa với yêu cầu phải có thiết kế được duyệt rồi mới tính đến chuyện đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa và nhà thầu xây lắp.

(Nguồn Báo đấu thầu số 198, ngày 5/10/2010)

 

 

 

Bài 2:  Những lợi thế và bất lợi của hình thức EPC

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ cách phân chia công  việc nêu trên, phần này của bài viết sẽ tập trung phân tích lợi thế và bất lợi của hình thức EPC so với hình thức thực hiện dự án thông thường
Về lợi thế
Thứ nhất  chủ đầu tư được giảm thiểu về công việc quản lý đối với dự án vì đã có một đầu mối thực hiện dự án.. Nhà thầu EPC thực hiện luôn các công vụ điều phối. quản lý dự án thay  chủ đầu  tư. Trách nhiệm kết nối các  khâu các phần trong chuỗi công việc của dự án thuộc về  nhà thầu EPC; kể cả việc tế chức mua sắm, thế tạo và cung cấp thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu và tiến độ thực hiện của hợp đồng. lựa chọn nhà thầu phụ (nếu có)… Với hình thức này nhà thầu được phát huy tính sáng tạo cũng như có cơ hội phát triển sâu hơn trong lĩnh vực ngành nghề của mình. Trong thời gian gần đây, nhằm xây dựng năng lực của các nhà thầu Việt Nam một số nhà thầu trong nước được chỉ định thực hiện gói thầu EPC quan trọng-như Tổng .công ty :Lắp máy Việt Nam (LILAMA) thực hiện dự án EPC Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1. Tổng công ty Sông Đà thực hiện dự án EPC Thủy điện  Na Hang, Tuyên Quang.

 

Thứ hai xuất phát từ việc thiết kế, cung cấp hàng hóa và xây lắp do một đầu mối đảm nhận nên giảm thiểu những rủi ro ai có bất cập hoặc khác biệt giữa thiết kế với thi công. Do nhà thầu thi công được tiếp cận với dự án ngay từ đầu nên giảm được thời gian nhà thầu làm quen với thiết kế, đề xuất điều chỉnh thiết kế cho phù hợp với biện pháp thi công hoặc ngược lại đề xuất điều dành biện pháp thi công cho phù hợp với thiết kế. Ngoài ra, tiến độ của dự án có thể được đấy nhanh trong trường hợp triển khai công tác thi công ngay cá khi thiết kế chưa  hoàn thiện. Với việc hiện thực hóa các lợi thế này, nhà thầu EPC còn có thể giảm được chi phí thực hiện dự án.

Thứ ba  đối với chủ đầu tư thì chi phí đối với gói thầu EPC do tiên lượng và kiểm soát hơn nhờ có một đầu mối thực hiện. Có một số hình thức hợp đồng có thể sử dụng như hợp đồng trọn gói. hợp đồng theo đơn giá. Trong nhiều trường hợp sử dụng vốn từ các tổ chức tín dụng, hợp đồng  EPC được ký theo hình thức trọn gói. Điều này tạo thuận lợi cho chủ đầu tư cũng như tổ chức cho vay vốn trong kiểm soát chi phí dự án ngay từ khi bắt  đầu triển luật gói thầu EPC.
Về bất lợi
Thứ nhất  yếu tố quyết định thành công hay hiệu  quả của dự án phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ của nhà thầu EPC. Việc triển khai EPC ở ViệtNam trọng thời gian gần đây cho thấy thế bất  lợi đang có xu hướng  lấn lướt. Ví dụ trường hợp nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở  rộng 1, do nhà thầu EPC chưa có kinh nghiệm dẫn đến tiến độ Nhà máy chậm hơn 3 năm so với kế hoạch. Một số công trình do nhà thầu EPC Trung Quốc đảm nhận cũng rơi vào tình trạng tương tự. việc khắc phục bất lợi này nằm trong cơ chế lựa chọn nhà thầu EPC – vấn đề sẽ được bàn tới trong những bài viết sau.
Thứ hai, chủ đầu tư tạo quyền tự chủ hơn chủ nhà thầu những rủi ro trong  việc giảm quyền được giám sát của chủ đầu tư là cao, do có một   đầu mối chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề của dự án/gói thầu. Điều này dẫn đến việc kiểm soát của thủ đầu tư cũng như tư vấn giám sát đối với chất lượng của từng khâu, từng việc bị hạn chế, trong khi chủ đầu tư vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với chất lượng và hiệu quả nói chung của công trình. Vấn đề này được bàn tới trong các bài báo gần đây: vật tư không đúng chủng loại yêu cầu và đã được chủ đầu tư và tư vấn. giám sát phát hiện nhưng nhà thầu EPC vẫn đưa vào sử dụng cho công trình. Điểm bất lợi này trên lý thuyết sẽ được khắc phục một phần với quy định của Nghị định 48/20101NĐ – CP khi từng công việc (thiết kế, hồ sơ mời thầu, kểt quả lựa chọn nhà thầu) phải nhận được sự đồng thuận của chủ đầu tư.
Thứ ba, trong quá trình: thực hiện hợp đồng, nhà thầu  EPC có xu hướng tiết kiệm chi  phí nhằm tăng lợi nhuận. Một số trường hợp không quan tâm đến chất lượng  tổng thể, có thể dẫn đến rủi ro công trình không đáp ứng tiêu chuẩn, chất lượng như yêu cầu của chủ đầu tư. Dự án nêu trong bài “Bẫy đấu thầu giá rẻ” đăng trên báo Thanh Niên ngày 19/8/2010 là một ví dụ về bất lợi này. Vấn đề ở chỗ quy định đối với các điều kiện, điều khoản ràng buộc trong hợp đồng và có sự kiểm soát, giám sát của thủ đầu tư tư vấn trong thực hiện hợp đồng. Nội dung này sẽ được bàn luận trong các bài viết tiếp theo.

(Nguồn Báo đấu thầu số 199, ngày 6/10/2010)

 

 

 

Bài 3:  Việc áp dụng hình thức EPC

 

 

 

 

 

 

 

 

Nên áp dụng EPC khi nào?
EPC nên được áp dụng  khi dự án có nhiều sự lựa chọn về biện pháp thi công, đặc biệt là công trình có công nghệ xây dựng tiên tiến, công nghệ thuộc bản quyền của nhà xây dựng. Khi đó, thiết kế của dự án phụ thuộc đáng kể vào từng biện pháp thi công. Việc tách khâu thiết kế với cung cấp hàng hóa và xây lắp đối với trường hợp này sẽ khiến chủ đầu tư khó xác định đâu là phương án tốt nhất. Mặt khác, trường hợp chủ đầu tư đã quyết định lựa chọn một thiết kế nhất định để đưa ra đấu thầu cũng không đảm bảo tính cạnh tranh bởi thiết kế đó″ đã có định hướng cho một ‘loại công nghệ /biện pháp thi công nhất định. – EPC phù hợp với các công trình lắp đặt hệ thống cơ khí hệ thống điện mà việc thiết kế và sản xuất thiết bị không thể thực hiện tách rời. Đây là các công trình, hạng mục công trình đòi hỏi tính đồng bộ hóa cao.

Thực tế, nhiều công trình ngành điện, cơ khí khai khoáng của ViệtNamđã và đang được triển khai theo EPC. Ngoài ra, các chuyên gia  còn khuyến cáo sử dụng EPC trong trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực quản lý dự án khi chia thành nhiều gói thầu có tính chất khác nhau hoặc trường hợp dự án có yêu cầu thực hiện theo tiến độ gấp rút mà không thể cho phép chờ thực hiện xong thiết kế mới bắt tay vào xây dựng.

Không nên áp dụng EPC khi nào?

Trong trường hợp chủ đầu tư không thể xác định được yêu cầu đối với công trình các thông số chính của công trình về công suất phương án kỹ thuật thì việc áp dụng EPC sẽ chỉ gây bất lợi. Không nên triển khai EPC khi thực tế dự án cho thấy nếu trao thầu theo hình thức EPC thì nhà thầu sẽ chịu rủi ro lớn (ví dụ: dự án/gói thầu có phần khối lượng công tác ngầm lớn mà nhà thầu lại không có điều kiện để thực hiện khảo sát trực tiếp tại hiện trường). Trường hợp này có thể xuất hiện tình huống quyền và nghĩa vụ của các bên không cân đối trong hợp đồng EPC không đảm bảo tính khả thi  của việc triển khai dự án.

Ngoài các các yếu tố thuộc về điều kiện cụ thể của dự án và con người làm dự án kể trên, việc lựa chọn. có thực hiện theo gói thầu EPC còn phụ thuộc vào bối cảnh chung, trong đó có hoạt động đầu tư xây dựng được thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đang tạo một “độ mở” hay một sự “linh hoạt” nhất định để các chủ đầu tư lựa chọn ghép phần nào, khâu  nào vào với nhau. Hãy cùng nhìn lại hiện tượng áp dụng EPC ở nhiều gói thầu trong thời gian gần đây dẫn đến việc nhà thầu trong nước “đứng ngoài cuộc” đối với các dự án lớn. Nếu chỉ tìm cách đổ lỗi cho .quy định của pháp luật thì chắc chắn có phần phiến diện. Chúng ta cần suy ngẫm về vai trò của chủ đầu tư – người được giao quyền sử dụng nguồn vốn nhà nước. Nếu có trách nhiệm với xã hội khi tiêu đồng tiền đó thì hoàn toàn có cách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia thực hiện các phần việc của dự án. phù. hợp với năng lực trong nước .

Thực tế triển khai EPC  

Mỹ đã triển khai hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng theo cách tiếp cận thiết kế – xây dựng (DB) từ những năm 1980. Nhật Bản nghiên cứu về EPC cũng trong khoảng thời gian này, sau đó đưa vào áp dụng từ khoảng năm 2001-2002. Trung Quốc cũng đã triển  khai các hình thức cụ thể của DB từ đầu thế kỷ XXI. So với các nước này ViệtNambắt đầu  áp dụng EPC không muộn hơn. Năm 1996 – 1997 chúng ta bắt tay thực hiện dự án Nhà máy Nhiệt điện Phả lại 2 theo phương thức EPC, sử dụng vốn vay của Chính phủ Nhật     Bản thông qua Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC). Các dự án Thủy điện Na Hang, Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 lần lượt triển khai từ năm 2000, 2002. Hình thức quản lý đầu tư này đã phát huy tác dụng và dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng đầu tư xây dựng ở các nước. Vào thập niên 1980 và 1990 ở Mỹ, chỉ có khoảng 10% các dự án được áp dụng DB, đến nay con số này đã đạt khoảng 40%. Tại Trung Quốc, hiện DB chiếm 10% tổng số dự án và khoảng 5% trong tổng giá trị đầu tư xây dựng. Điều này cho thấy EPC không phải là “chìa khóa vạn năng” cho hoạt động quản lý đầu tư xây dựng và chắc chắn vẫn cần có sự thận trọng trong việc áp dụng hình thức này.

 

Ở ViệtNamchưa có con số thống kê đầy đủ về việc áp dụng hình thức EPC. Tuy nhiên đã có rất nhiều công trình áp dụng hình thức hợp đồng này. Có chuyên gia ước tính có khoảng 90% số dự án . thượng nguồn thuộc các ngành điện, khai khoáng, dầu khí luyện kim, hóa chất do nhà thầu EPC Trung Quốc thực hiện. Con số này hiện chưa được kiểm chứng. Để làm rõ thực trạng cũng như tồn tại trong việc áp dựng EPC ở ViệtNam, hiện Bộ kế hoạch và Đầu tư đang gấp rút triển khai nhóm nghiên cứu  về EPC. Trên cơ sở thông tin được cung cấp từ các Bộ, ngành và địa phương. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ nghiên cứu , tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong thời gian sớm nhất.

(Nguồn Báo Đấu thầu số 200, ngày 7/10/2010)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 4:  Điều kiện trúng thầu gói thầu EPC

 

 

 

 

 

 

 

Trong các bài viết trước,  bạn đọc đã được giới thiệu quan điểm chung nhất về EPC và khâu trọng yếu quyết định đến chất lượng một cuộc thầu. Bài viết này sẽ tiếp tục làm rõ sự “đắt- rẻ” mà một người làm đấu thầu chuyên nghiệp và chân chính phải nắm cho tường tận.

Theo quy định của Luật Đấu thầu, đối với hồ sơ dự thầu (HSDT) gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp hoặc EPC đã vượt qua bước đánh giá về mặt kỹ thuật thì căn cứ vào giá đánh giá để so sánh xếp hạng HSDT của các nhà thầu.

 

Theo đó, HSDT của nhà thầu có giá đánh giá thấp nhất được xếp thứ nhất và được đề nghị trúng thầu nếu giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch của nhà thầu đó không lớn hơn giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu hoặc dự toán được duyệt (Điều 38 về xét duyệt trúng thầu đối với đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và EPC). Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật  quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 (khoản 1 Điều 2) nêu rõ “giá đánh giá là giá được xác định trên cùng một mặt bằng về các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thương mại và được dùng để so sánh, xếp hạng HSDT đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp hoặc gói thầu EPC. Giá đánh giá bao gồm giá dự thầu do nhà thầu đề xuất để thực hiện gói thầu sau khi đã sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch, cộng vớt các chi phí cần thiết để vận hành,. bảo dưỡng và các chi phí khác liên quan đến tiến độ, chất lượng, nguồn gốc của  hàng hóa hoặc công trình thuộc gói thầu trong suốt thời gian sử dụng”.
Như vậy giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc HSDT, bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu. Còn việc bên mời thầu (BMT) xác định giá đánh giá đối với gói thầu EPC là nhằm chuyển đổi chi phí do các nhà thầu chào trong HSDT về cùng một mặt bằng: kỹ thuật, tài chính. thương mại và một số yếu tố khác trong cả thời gian vòng đời của dự án để xem xét. lựa chọn nhà thầu chào phương án mang lại hiệu quả hay “giá trị đồng tiền” cao nhất của cả vòng đời dự án. Do đó, cơ sở để xét duyệt nhà thầu trúng thầu là giá đánh giá thấp nhất, mà không phải là giá dự  thầu do nhà thầu chào thấp nhất. Theo quy định của Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, đối với gói thầu mua sắm hàng hóa xây lắp tuỳ theo tính chất của từng gói thầu mà quy định các yếu tố về điều kiện kỹ thuật, tài chính và thương mại để xác định giá đánh giá cho phù hợp.
Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa có thể lựa chọn các yếu tố về kỹ thuật như: tiến độ thực hiện; công suất, hiệu suất của máy móc, thiết bị; mức tiêu hao điện năng, nguyên nhiên vật liệu; chi phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng; tuổi thọ và các yếu tố kỹ thuật khác (khoản 3, Điều 25). Đối với gói thầu xây lắp có thể lựa chọn các yếu tố kỹ thuật như: tiến độ thực hiện; chi phí quản lý, vận hành. duy tu, bảo dưỡng. tuổi thọ công trình và các yếu tố kỹ thuật khác để đưa về một mặt bằng đánh giá. HSDT có giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp thứ nhất (khoản 3, Điều 26). Có thể thấy tùy theo đặc điểm của từng gói thầu mà có những cách thức quy đổi khác nhau về cùng một mặt bằng. Một trong những công việc khó khăn nhất trong việc quy đổi về cùng một mặt bằng là việc quy đổi nguồn gốc của hàng hóa do rất khó định lượng. Để hiểu rõ hơn về nội dung này, chúng ta hãy nghiên cứu một ví dụ sau đây: BMT X tổ chức đấu thầu gói thầu mua sắm hàng hóa M. Hồ sơ mời thầu (HSMT) do BMT phát hành có ghi việc xác định giá đánh giá  theo công thức: B (i) = Giá trị thiết bị ( i )  trong gói thầu x K1. Trong đó quy định: nếu cùng là thiết bị sản xuất theo tiêu chuẩn Nhật Bản được sản xuất và lắp ráp tại Malaysia hoặc Thái Lan áp dụng mức K1=100% (tức hệ số K = 1), còn nếu được sản  xuất và lắp ráp tại Việt Nam thì áp dụng mức K1=300% (tức hệ số K = 3), như vậy, có nghĩa là đưa về cùng mặt bằng giá đánh giá thiết bị sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam cao gấp 3 lần so với thiết bị được lắp ráp tại Malaysia hoặc Thái Lan về mặt hệ số K1.
Vậy việc HSMT đưa công thức xác định giá đánh giá như trên có phù hợp không? Xin được trả lời ngay là không được và khi chủ đầu tự đưa ra công thức tính căn cứ vào xuất xứ của thiết bị thì cũng cần phải đưa ra được (giải  thích, chứng minh) cơ sở kinh tế – kỹ thuật của công thức đó, tức là công thức đưa ra phải mang tính khoa học, khách quan. Căn cứ theo công thức tại tình huống nêu trên thì thấy rằng việc. hàng hóa sản xuất tại ViệtNam phải chịu mức chi phí để đưa về cùng một mặt bằng cao gấp 3 lần so với hàng hóa cùng loại sản xuất tại Thái Lan hoặcMalaysia là bất hợp lý. Cách đưa ra hệ số như vậy là thiếu cơ sở tính toán khoa học, thiếu khách quan. Do vậy, việc quy đổi về cùng một mặt bằng về nguồn gốc của hàng hóa là một công việc khó đòi hỏi cá nhân lập HSMT phải có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và có “nghề” có bản lĩnh để đưa ra quy định khách quan, công bằng, tránh khiếu nại,  kiến nghị từ nhà thầu hoặc của tổ chức, cá nhân liên quan. Cách làm hiệu quả nhất là các Bộ, ngành có liên quan cần thành lập một Hội đồng khoa học – kỹ thuật – kinh tế (tập hợp những chuyên gia giỏi, chuyên gia sâu về lĩnh vực máy móc thiết bị có liên quan) để nghiên cứu  và đưa ra công thức tính toán, cũng như hệ số quy đổi phù hợp với từng loại thiết bị, công nghệ để áp dụng khi xác định giá đánh giá.
Làm được như vậy là góp phần vào việc lựa chọn được nhà thầu “xứng đáng đồng tiền bát gạo’, góp phần tạo ra sự công khai, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Trong thực tế của công tác đấu thầu hiện nay, việc lựa chọn các yếu tố đề xác định giá đánh giá còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều chủ đầu tư BMT không đưa ra được các yếu tố đánh giá về một mặt bằng trong HSMT nên phải chấp nhận xếp hạng nhà thầu theo giá dự thầu sau khi đã sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch. Chính vì cách làm này nên dẫn đến tình trạng nhiều gói thầu lựa chọn nhà thầu dựa chủ yếu vào giá dự thầu của nhà thầu. HSDT có giá dự thầu thấp nhất sẽ có nhiễu khả năng trúng thầu. Cách làm này cũng thể hiện năng lực của các chủ đầu tư, BMT cũng như tư vấn lập HSMT còn hạn chế trong việc đề xuất các yếu tố đưa về một mặt bằng và không biết cách xác định chi phí của các yếu tố này ảnh hưởng tới hiệu quả của gói thầu.
Bên cạnh đó có những chủ đầu tư, BMT lại đưa vào HSMT một loạt các yếu tố để đưa về    một mặt bằng đánh giá  nhưng không đưa ra cácc tính hoặc công thức tính các chi phí đưa về một mặt bằng trong HSMT. Trong những  trường hợp này, khi đánh  giá HSDT, BMT có thể tự lựa chọn xem yếu tố nào đưa về một mặt bằng và tính toán trên cơ sở thống nhất cách làm trong nội bộ Tổ chuyên gia đấu thầu hoặc BMT. Với cách làm này, có những yêu  tố đưa về một mặt bằng đã quy định trong tiêu chuẩn đánh giá nhưng bị bỏ qua, không xem xét đến khi đánh giá hoặc chỉ lựa chọn các yếu tố đưa về một mặt bằng có lợi cho nhà thầu nào đó Do cách quy định quá “cởi mở” như vậy trong HSMT và việc áp dụng tuỳ hứng của BMT, Tổ chuyên gia đấu thầu đã dẫn đến những trường hợp việc xác định giá đánh giá để nhằm loại bỏ các HSDT không được ưa thích, chứ không căn cứ vào HSMT và HSDT của nhà thầu một cách khách quan, công bằng.
Qua phân tích nêu trên ta thấy việc qui đổi  chi phí về cùng mặt  bằng phải thể hiện những  chi phí cụ thể căn cứ vào các điều kiện về mặt kỹ thuật có thể tính toán và lượng hóa kinh tế, kỹ thuật được (chẳng hạn như mức tiêu hao nhiên liệu khác nhau, tiêu hao phụ tùng thay thế khác nhau. thời gian sử dụng khác nhau…) như ví dụ 3 tại Phụ lục 2 Mẫu HSMT mua sắm hàng hóa ban hành kèm theo Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10/2/2010, không nên đưa ra một công thức thiếu căn cứ làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng. Việc hạn chế sự tham gia của nhà thầu là không phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu.
Xác định giá đánh giá là nội dung quan trọng trong quá trình lập HSMT. Công thức quy đổi về cùng một mặt bằng hợp lý sẽ giúp chủ đầu tư lựa chọn chính xác được nhà thầu trúng thầu đem lại hiệu quả cao nhất cho dự án. Vì vậy trong chuẩn bị HSMT, BMT cần nghiên cứu, xem xét đưa ra những yêu cầu phù hợp với tính chất của gói thầu. Đối với công việc khó khăn này, muốn thực hiện tốt công tác đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu, cần phải có các chuyên gia có chuyên môn sâu và hiểu rõ về gói thầu, có khả năng  lựa chọn các yếu tố thích hợp để đưa về một mặt bằng, đồng thời phải đưa ra được cách tính những chi phí ảnh hưởng của các yếu tố này trong suốt vòng đời thực hiện dự án. Với yêu cầu này. các chuyên gia khi xây dựng HSMT, tiêu chuẩn đánh giá HSDT, rõ ràng cần phải có kiến thức chuyên ngành phù hợp với gói thầu, có chuyên môn sâu về gói thầu mới có thể thực hiện được.
Do đó, việc lựa chọn tư vấn không đủ năng lực để giúp chủ đầu tư xây dựng HSMT của nhiều dự án như hiện nay cần phải được xem xét cẩn thận, vì nó không thể đảm bảo có được một HSMT mà trong đó đưa ra đầy đủ, chính xác các yếu tố đưa về một mặt bằng đánh giá phù hợp, với điều kiện cụ thể của gói thầu. Mặc dù chủ đầu tư, BMT có thể sử dụng các mẫu HSMT đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, khi xây dựng  HSMT, nhưng không thể thiếu “bộ óc” của các chuyên gia tư vấn, của những người trực tiếp soạn thảo HSMT. Đó là nhân tố quyết định đảm bảo đưa các thông tin đầu vào chính xác trong HSMT, trong đó có các điều kiện cụ thể để xác định giá đánh giá, giúp cho việc lựa chọn nhà thầu được thuận lợi khách quan, công bằng và chính xác. Báo Thanh niên số ra ngày 24/8/2010 có bài viết “Đối phó với bẫy thầu giá rẻ ” đã trích đăng phỏng vấn TS. Nguyễn Thành Sơn. Giám  đốc Công ty Xây dựng Sông Hồng, là người trực tiếp soạn thảo các báo cáo đầu tư. HSMT, tiêu chuẩn đánh giá HSDT đã cho rằng “Trong đấu thầu, nếu thực hiện theo đúng luật, công khai. minh bạch thì dù có bỏ rẻ mà chất lượng kém cũng khó trúng thầu. Nhà thầu có thể chào thầu giá rẻ, nhưng đó mới chỉ là giá chào thầu của nhà thầu. Chủ đầu tư phải chấm, đưa ra giá đánh giá để xếp hạng HSDT.  Trong giá đánh giá  đã bao hàm yếu tố hiệu quả của cả đời dự án, còn giá rẻ chỉ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư Xét thầu là một công việc: hết sức quan trọng, đòi hỏi chủ đầu tư phải có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thậm chí  bản lĩnh nữa để chấm thầu cho thực sự sòng phẳng. Nếu chấm thầu mà tính đến hiệu quả của cả đời dự án thì chắc chắn những nhà thầu giá rẻ sẽ không thể tồn tại”. Ý kiến của TS. Nguyễn Thành Sơn là hoàn toàn phù hợp với quy định về lựa chọn nhà thầu theo Luật Đấu thầu của ViệtNam và các quy định đấu thầu của các tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng Phát triển Châu Á, văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản…). Như vậy cần phân biệt thật rõ ràng “ giá đánh giá thấp nhất” với “ giá dự thầu thấp nhất ”Luật đấu thầu quy định nhà thầu được đề nghị trúng thầu là nhà thầu có “giá đánh giá thấp nhất”, chứ không phải nhà thầu có giá dự thầu thấp nhất”. Khoản 5 Điếu 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP đã quy định việc xử lý tình huống trong đấu thầu: thường hợp HSDT có đơn giá khác thường mà gây bất lợi cho chủ dầu tư thì BMT yêu câu nhà thầu giải thích, làm rõ bằng văn bản về những đơn giá khác thường đó. Nếu sự giải thích của nhà thầu không đủ rõ, không có tính thuyết phục thì coi đây là sai lệch và thực hiện hiệu chỉnh sai lệch theo quy định như đối với nội dung chào thừa hoặc thiếu của HSDT so với yêu cầu của HSMT theo quy định tại Điều 30 Nghị định này”.
Ngoài ra, khoản 10 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP cũng quy định “trường hợp giá đề nghị trúng thầu do BMT đề nghị thấp bất thường hoặc thấp nhất dưới năm mươi phần trăm (50%) giá gói thầu hoặc dự toán được duyệt thì trước khi phê duyệt kết quả đấu thầu, chủ đầu tư có thể đưa ra các biện pháp phù hợp như thành lập Tổ thẩm định liên ngành để thẩm định kỹ hơn về HSDT của nhà thầu hoặc đưa ra các biện pháp phù hợp trong hợp đồng để bảo đảm tính khả thi cho việc thực hiện”. Tóm lại, pháp luật về đấu thầu đã có quy định về cách xử lý đối với các trường hợp có giá dự thầu thấp bất thường hoặc quá thấp. Vấn đề còn lại là chủ đầu tư, tổ chuyên gia đấu thầu cần nghiên cứu áp dụng để đạt được mục tiêu là lựa chọn được nhà thầu có năng lực và HSDT đảm bảo được yêu cầu đề ra của HSMT, tức là lựa chọn được phương án chào thầu hiệu quả kinh tế nhất.

 (Nguồn Báo Đấu thầu số 201, ngày 8/10/2010)

 

(Nguồn: http://kinhtexaydung.gov.vn)